> > > Quy định về xử phạt gương chiếu hậu xe máy

Quy định về xử phạt gương chiếu hậu xe máy

Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 53 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, các phương tiện tham gia giao thông là xe cơ giới phải "có đủ gương chiếu hậu và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển".

[IMG]
Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 53 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, các phương tiện tham gia giao thông là xe cơ giới phải "có đủ gương chiếu hậu và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển".

Tại tiêu chuẩn số TCVN 6770-2001 về các yêu cầu cơ bản đối với việc sử dụng gương lắp trên xe máy 2 bánh được quy định như sau:

  • Xe gắn máy 2 bánh có vận tốc tối đa theo thiết kế không vượt quá 50km/h phải được gắn ít nhất 1 gương chiếu hậu ở bên trái phương tiện;
  • Phương tiện có vận tốc tối đa theo thiết kế vượt quá 50km/h và các phương tiện 3 bánh phải được lắp 2 gương, 1 bên trái, 1 bên phải phương tiện.

Tuy nhiên, theo quy định mới nhất tại Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 2/4/2010 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, phương tiện tham gia giao thông là xe gắn máy chỉ bị xử phạt hành chính khi không lắp gương chiếu hậu bên trái phương tiện. Cụ thể, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định 34/2010/NĐ-CP thì: "Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Không có còi; đèn soi biển số; đèn báo hãm; gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng...".

Do vậy, về nguyên tắc, việc chỉ lắp gương chiếu hậu bên trái xe mà không lắp gương bên phải xe sẽ không bị xử phạt. Tuy nhiên, trường hợp có lắp gương chiếu hậu bên trái xe nhưng gương không có tác dụng thì bạn vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này.

Các yêu cầu kỹ thuật cơ bản đối với gương sử dụng để lắp trên môtô, xe máy được quy định tại tiêu chuẩn: TCVN 6770-2001 Phương tiện giao thông đường bộ- Gương chiếu hậu môtô và xe máy- Yêu cầu và phương pháp thử trong công nhận kiểu. Tiêu chuẩn này được biên soạn trên cơ sở quy định ECE 81-00/S1 ( ECE: uỷ ban kinh tế châu âu). Loại gương dùng cho môtô,xe máy là gương kiểu L.

Trong tiêu chuẩn nêu trên quy định :Tất cả các loại phương tiện hai bánh với vận tốc tối đa theo thiết kế không vượt quá 50km/h( hay dung tích động cơ nhỏ hơn 50cm3) phải được gắn ít nhất một gương ở bên trái phương tiện. Phương tiện hai bánh với vận tốc tối đa theo thiết kế vượt quá 50km/h và tất cả các phương tiện ba bánh phải được lắp hai gương, một bên trái và một bên phải của phương tiện.

Gương chiếu hậu dùng cho ôtô được quy định trong TCVN 6769-2001 Phương tiện giao thông đường bộ- Gương chiếu hậu- Yêu cầu và phương pháp thử trong công nhận kiểu được biên soạn trên cơ sở quy định ECE 46-01/S4. Số lượng lắp đặt được quy định như sau: Vì không thể có một kiểu loại gương mà có thể giúp cho lái xe quan sát được tất cả các vị trí cần thiết cho nên gương được chia thành các loại sau:

  • Gương lắp trong (loại I) có tác dụng để lái xe quan sát phía sau;
  • Gương lắp ngoài chính (loại II và III) cho lái xe quan sát hai bên thành xe trong khoảng phạm vi hẹp;
  • Gương lắp ngoài góc rộng(loại IV) giúp lái xe quan sát hai bên thành xe ở phạm vi rộng hơn ngoài phạm vi của gương lắp ngoài chính;
  • Gương lắp ngoài nhìn gần (loại V) dùng để quan sát ngay hai bên dưới bánh xe. Tuỳ theo việc phân loại phương tiện mà quy định số lượng cũng như kiểu loại gương cho từng loại phương tiện cũng khác nhau.

Về cơ bản, gương chiếu hậu lắp trên phương tiện giao thông đường bộ phải đáp ứng được các yêu cầu chính sau đây:

  • Tất cả các gương chiếu hậu đều phải điều chỉnh được một cách dễ dàng quanh cán gương nhưng cũng không quá rung lắc, lỏng lẻo khi xe chuyển động.
  • Phải đảm bảo bền khi bị chèn ép hoặc va chạm. Khi bị vỡ thì các mảnh kính văng ra phải hạn chế tối đa việc gây sát thương cho người điều khiển phương tiện cũng như những người khác.
  • Bề mặt phản xạ của gương phải có hình dạng phẳng hoặc cầu lồi tuỳ theo các loại gương. Diện tích cũng như dạng bề mặt của gương phải giúp cho người lái xe dễ dàng quan sát qua gương phía trước bánh xe, xung quanh xe, phía sau xe cũng như phía sau ở trong xe.

Để đánh giá xem gương có đáp ứng được các yêu cầu nêu trên hay không, trong tiêu chuẩn kỹ thuật đều có các nội dung kiểm tra độ bền cũng như thị trường của gương. Theo đó khi kiểm tra độ bền va đập và độ bền uốn gương không bị vỡ trong quá trình thử. Tuy nhiên cho phép có chỗ vỡ của gương nếu thoả mãn một trong các điều kiện sau:

  • Gương được làm từ kính an toàn (là loại kính khi bị vỡ sẽ vỡ vụn theo định dạng trước của nhà sản xuất hoặc các mảnh vỡ vẫn bám dính vào lớp chất dẻo trong suốt PVB trung gian);
  • Mảnh vỡ của kính vẫn bám vào vỏ bảo vệ hoặc nếu có mảnh vỡ rời khỏi vỏ bảo vệ thì các cạnh của mảnh vỡ này không được vượt quá 2,5mm.

Xử phạt phương tiện giao thông không lắp đủ 2 gương chiếu hậu?

Anh Nguyễn Đình Cường (Thuận Thành, Bắc Ninh) hỏi: Tôi bị Công an giao thông xử phạt vì phương tiện tôi sử dụng khi tham gia giao thông không lắp đủ 02 gương chiếu hậu. Tôi muốn hỏi việc xử phạt này có đúng không và theo quy định nào của pháp luật?

Trả lời: Theo điểm a, khoản 2, Điều 19 Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông như sau:


“...2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe không có đủ đèn chiếu sáng, đèn soi biển số, đèn báo hãm, đèn tín hiệu, cần gạt nước, gương chiếu hậu, đồng hồ báo áp lực hơi, đồng hồ báo tốc độ của xe hoặc có những thứ đó nhưng không có tác dụng, không đúng tiêu chuẩn thiết kế (nếu có quy định phải có những thứ đó) hoặc lắp thêm đèn chiếu sáng về phía sau xe...”.

Trên đây là quy định về việc xử phạt đối với ô tô và các loại xe tương tự ô tô. Việc xử phạt đối với mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định 34/2010/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 33/NĐ-CP ngày 16/5/2011:

“Xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông

“1. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Không có còi; đèn soi biển số; đèn báo hãm; gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng...”

Căn cứ quy định đã viện dẫn trên thì xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô khi tham gia giao thông đường bộ phải có đủ hai gương chiếu hậu; còn các phương tiện là mô tô, xe máy và các loại xe tương tự mô tô, xe máy thì chỉ bắt buộc phải có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển mà không bắt buộc phải có cả hai gương chiếu hậu.

Vì trong thư anh không nói rõ, phương tiện khi anh tham gia giao thông bị xử phạt là phương tiện gì và mức phạt là bao nhiêu nên chúng tôi không trả lời cụ thể cho anh việc xử phạt của Công an giao thông là đúng hay sai. Nếu phương tiện bị xử phạt là ô tô hay các loại xe tương tự ô tô do không có đủ hai gương chiếu hậu thì việc xử phạt của Công an giao thông là đúng và mức phạt căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 19 Nghị định 34/2010 nêu trên.

Nếu phương tiện bị xử phạt là mô tô, xe máy hay các loại xe tương tự mô tô, xe gắn máy thì việc xử phạt này là không đúng pháp luật căn cứ điểm b khoản 1, Điều 20 Nghị định 34/2010 nêu trên.

Giải đáp pháp luật

Quy định về xử phạt lỗi xe không có gương chiếu hậu

Bạn đọc hỏi: Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển, hoặc có nhưng không có tác dụng thì bị xử phạt như thế nào?

 

Về vấn đề này, ông Trần Thế Quân, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Công an trả lời như sau:

Căn cứ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 2/4/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 thì người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng thì bị xử phạt từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng.

Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm nêu trên là mức trung bình của khung tiền phạt (90.000 đồng); nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt (không được giảm quá 80.000 đồng); nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt (không được vượt quá 100.000 đồng).

Nếu ngoài hành vi vi phạm nêu trên, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy còn có hành vi vi phạm hành chính khác bị phạt tiền thì được cộng lại thành mức phạt chung.

 
Theo Chính phủ
LIÊN KẾT