> > > Nhạc sĩ Phạm Duy đã nghìn trùng xa cách

Nhạc sĩ Phạm Duy đã nghìn trùng xa cách

Nhạc sĩ Phạm Duy đã nghìn trùng xa cách

27/01/2013 20:25

(TNO) Thế là nhạc sĩ Phạm Duy đã đi vào cõi vĩnh hằng vào chiều nay 27.1, để lại một khoảng trống trong đại gia đình âm nhạc Việt Nam và một “nỗi buồn sông nước” vang ra từ những lời ca ông đã viết: “Chiều rơi trên đường vắng - có ta rơi giữa chiều - hồn ta theo vạt nắng - theo làn gió đìu hiu”...

Ca từ ấy cách đây chưa lâu đã được Phạm Duy nhắc đến khi chúng tôi đến thăm ông vào dịp kỷ niệm sinh nhật của nhạc sĩ đầu tháng 10.2012 vừa rồi.

Buổi sáng hôm đó trời Sài Gòn mưa sớm và mưa to đột ngột. Từ trong nhà, nhạc sĩ Phạm Duy bước ra gần cửa, đứng trên hàng hiên có lát những viên gạch đỏ hồng, trông ông vẫn còn “phong độ” trong bộ đồ màu đen và mái đầu bạc trắng. Vào nhà, ông ngồi trên chiếc ghế nệm khá rộng màu đỏ. Trước mặt chúng tôi là tượng điêu khắc chân dung ông, trên tường treo bức tranh của họa sĩ Hồ Thành Đức vẽ tặng ông đã lâu. Cạnh đó có treo bảng danh hiệu “Bàn tay vàng của danh nhân” ông vừa nhận được hồi tháng 8.2012.

Lúc ấy, chúng tôi không nghĩ rằng ông sẽ ra đi trước Tết Quý Tỵ thế này, vì tuy đang mang “bệnh tuổi già với nhiều biến chứng” như ông nói, nhưng trông sắc diện và giọng nói của ông vẫn chưa đến nỗi báo trước ngày “nghìn trùng xa cách” như chiều nay.

Hôm đó, ông nói về lịch sử âm nhạc lãng mạn của Việt Nam, vui vẻ khẳng định “mình có thể nói bất tận ngày này sang ngày khác” về đề tài trên. Song lần đó vào sinh nhật của ông, câu chuyện lại nóng lên quanh “ngày sinh của tình ca” trong cái “thuở ban đầu” của tân nhạc Việt Nam. Vì ông bảo giai đoạn đó đã xuất sinh những “hạt mầm” để về sau trưởng thành nên những cây đại thụ của âm nhạc Việt Nam. Nhưng đâu là cái mốc để đánh dấu?

Ông đưa ra câu trả lời rất nhanh như đã có sẵn trong đầu: "Cái mốc lớn đánh dấu sự xuất hiện của âm nhạc Việt Nam mà tới nay thế hệ trẻ yêu âm nhạc ở trong cũng như ở ngoài nước ít khi nhắc đến. Đó là cái mốc tôi khẳng định không thể quên là vào đầu năm 1938, khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên lần đầu tiên đăng đàn lên tiếng vận động cho âm nhạc cải cách tại Hà Nội và Hải Phòng vào tháng 3 năm ấy. Trong các buổi vận động nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên đã giới thiệu ba bài hát của mình là: Bông cúc vàng, Anh hùng ca Một kiếp hoa...".


Nhạc sĩ Phạm Duy - Ảnh do nhà báo Giao Hưởng chụp tại nhà riêng của nhạc sĩ ở TP.HCM, tháng 10.2012

Phạm Duy nói trong ba bài ấy thì bài Bông cúc vàng sử dụng thang âm ngũ cung Việt Nam nghe buồn mênh mang. Ông nhận xét bài Một kiếp hoa mang âm giai thất cung với ca từ thổn thức theo ngọn gió đông mà ông thuộc lời và nhắc: “Quét tan tành những cánh hoa vô tội - ta tưởng đâu như những mảnh tình xưa (...) Hoa tan tác lòng ta tan tác - một kiếp hoa, kiếp người đâu khác!”.

Khi ông nói, ngoài trời vẫn mưa lớn lắm. Ông chợt nhìn vào pho tượng của đức Quan Thế Âm Bồ tát đặt trước mặt ông, ngay chỗ tiếp khách. Chúng tôi không hiểu do tình cờ hay do nhắc đến “kiếp người” mà ông nhìn vào pho tượng Bồ tát Quan Âm cứu khổ cứu nạn như thế. Chúng tôi cũng lặng im một lát nhìn ông, rồi nghe ông phân tích tiếp rằng hai bài ca cải cách đầu tiên của tân nhạc nước ta “đều là hai bài ca buồn các ông ạ, nó như một quyến rũ đối với thế hệ sáng tác những tình ca tiếp đó. Cũng trong thời điểm có các bài nhạc “mở đầu” cho âm nhạc cải cách (musique renovée) nêu trên, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đã phổ nhạc những bài thơ của Thế Lữ như Hồn xuân, Chờ đợi bình minh", Phạm Duy hồi tưởng.

Ông cũng nhắc đến đỉnh điểm của tình ca “trào lên ngọn” với một loạt nhạc phẩm lãng mạn tiên phong như Bẽ bàng của Lê Yên và Văn Chung với Biệt ly, Trở lại cùng anh của Dzoãn Mẫn và tình ca của các nhạc sĩ như Văn Cao, Lê Thương, Hoàng Quý, Đặng Thế Phong, Hoàng Giác, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, La Hối, Nguyễn Mỹ Ca...

Ông nói dù đi Mỹ hay đi Tây, dù còn đang trẻ phơi phới hay tóc bạc trắng như mây, thì ông không bao giờ quên “thuở ban đầu” ấy.

Trong câu chuyện ông nhắc đến xu hướng nhạc yêu nước trong giai đoạn đầu của tân nhạc Việt Nam lúc phong trào nhạc cải cách đã ra đời và phát triển từ những năm đầu thập niên 1940 về sau như các bài của Thẩm Oánh: Trưng nữ vương, Bình Định vương, Hưng Đạo vương - và của Lưu Hữu Phước với: Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng, Hội nghị Diên Hồng, Nam tiến...

Trong những năm tham gia kháng chiến chống Pháp, ông nói ông vui mừng được gặp nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát ở Bắc Cạn. Phạm Duy cho biết ông rất thích bài Gọi nghé của Nguyễn Xuân Khoát sáng tác năm 1947, tác phẩm này đã đọng lại trong ông rất nhiều, để sau này ông viết một số bài có âm hưởng dân ca, chẳng hạn như Nương chiều với các câu: “Lúc chiều về mọc ánh trăng tơ - cho ngày mùa bài hát nên thơ, ơi chiều - chiều ơi, mái nhà sàn thở khói âm u - cô nàng về để suối tương tư, ới chiều...”.

 Nói tới đó, ông đứng dậy dẫn chúng tôi qua phòng nhỏ bên cạnh chỗ đang ngồi, chỉ cho chúng tôi xem một số sách về âm nhạc mà ông đã lưu tâm, sắp xếp cẩn thận trong các lồng kính. Nhìn lên tường, chúng tôi thấy có bức chân dung của nhạc sĩ Phạm Duy chụp bởi nhiếp ảnh gia Mừng, trên nền bức ảnh có viết câu: “Mời người lên xe về miền quá khứ”.

Đó là một câu trong bài Nghìn trùng xa cách mà ông bộc bạch (nói “mình” thay vì “tôi” thân mật): “Mình viết bài này là để tặng cho một người tình trước khi cô ấy lên xe hoa, cô trẻ hơn mình đến hơn 10 tuổi, lúc mình 28 tuổi cô ấy mới 16 tuổi. Mình viết tới khoảng 50 tình ca cho cuộc tình đó, trong đó có bài Cỏ hồng với mấy câu đại ý rước em lên đồi cỏ xanh ngập lối, lấy khung cảnh từ Đà Lạt những ngày rất mộng kia”.

Rồi ông lại quay về chỗ tiếp khách. Chỗ ấy nhìn thẳng ra cửa có treo một khung nhạc rất lớn ở phía trên, mà đứng dưới đất nhìn lên, chúng tôi thấy rõ là bản Tình ca với mấy câu chép khá to giữa các dòng nhạc kẽ: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời - người ơi, mẹ hiền ru những câu xa vời, à ơi tiếng ru muôn đời”.

Đọc và thầm hát bài nhạc đó, chúng tôi muốn hỏi nhạc sĩ Phạm Duy đôi điều mà một số nhà văn, nhà báo trước đây ví ông như “người tình già” đã “trở về mái nhà xưa”.

Ông về Việt Nam đã 7 năm nay và vẫn sống trong căn nhà mà chúng tôi đến thăm nằm trên đường Lê Đại Hành, Q.11, TP.HCM, trong con hẻm lớn cách đường lộ đông đúc xe cộ khoảng vài chục mét nên khá yên tĩnh. Ở đó, ông thân mật nói với chúng tôi “một chút riêng” về lý do tại sao ông trở về Việt Nam. Ông nói điều đó với giọng trầm buồn, mà tốt hơn hết có lẽ chúng tôi cần để nguyên văn câu giải thích qua hồi ký của ông.

Ông viết rằng ở Mỹ, ông trầm mình trong cơn buồn bã và nhớ nhung: “Đó là chưa kể việc tôi thấy tôi đã mất dần cái quần chúng nghe nhạc đáng quý của thời xưa rồi. Nhạc đứng đắn mang tính chất quốc gia, dân tộc không còn được nhiều người thích nghe nữa. Lớp người Việt qua Mỹ đầu tiên nay đã già cả rồi, đã yên phận cả rồi, đã quen với đời sống thầm lặng ở Mỹ rồi. Mang con sang Mỹ chúng trở thành bác sĩ, luật sư cả rồi, nhưng chúng mời cha mẹ vào ở “nursing house” cả rồi.

Thế hệ thứ hai (second generation) này - đặc biệt là ở Hoa Kỳ - tức là lớp tuổi 20 còn coi nhạc Việt là một sản phẩm văn hóa rất xa lạ. Chúng chỉ nghe nhạc Mỹ, âm nhạc Việt Nam bây giờ, than ôi, muốn được nhiều người mua và nhiều người nghe phải phù hợp với khối óc và con tim của lớp người Việt sang Mỹ sau cùng. Và nói chung, vì không hay hơn hoặc hay ngang với nhạc thời trước 1975, âm nhạc bây giờ đã xuống cấp. Cũng dễ hiểu thôi, trong môi trường “nhạc thương mại”, trình độ thưởng thức cùng với bài bản và ca sĩ, cả ba yếu tố này phải trở thành tầm thường hay dung tục”.

Ông nói buổi đầu về lại Việt Nam, ông rất bất ngờ với cảnh đón nhận các CD và một số chương trình ra mắt nhạc phẩm của ông phát hành tại Việt Nam từ TP.HCM, Đà Nẵng, Huế cho đến Hà Nội, với sự chuẩn bị nhiệt tình của Công ty văn hóa Phương Nam: “Tôi cảm động vì được trở về trong lòng của người yêu âm nhạc tại Việt Nam, điều ấy tôi không tìm thấy trong những tháng năm xa xứ.

Điều nữa, trong những ngày về lại Việt Nam, tôi nhớ đến vợ tôi là cô Thái Hằng mà trước đó nếu tôi về sớm hơn thì đã đưa thêm Hằng về nữa và có lẽ Hằng sẽ rất xúc động đến không ngờ vì khán giả Việt Nam vẫn còn yêu quý chồng mình. Đối với tôi, Thái Hằng là một á thánh của hạnh phúc gia đình, đã mất ở nước ngoài vào tuổi 73 vì bệnh ung thư. Nhưng phần nào tôi rất ấm áp khi có mặt ở Việt Nam để tự giới thiệu về các nhạc phẩm trong CD của mình, không lẻ loi, cô độc mà bên cạnh có bốn con trai của tôi là Duy Quang hát các bài trong CD, Duy Cường thì hòa âm chơi keyboard, bên cạnh có tiếng đàn của Duy Hùng và tiếng trống của Duy Minh hòa vào nữa”.

Trong số những bài ông giới thiệu nhân ngày trở về có một số phổ thơ của Huy Cận (Ngậm ngùi), thơ Xuân Diệu (Mộ khúc), thơ Hữu Loan (Áo anh sứt chỉ đường tà), thơ Huyền Chi (Thuyền viễn xứ). Nhân đó ông nhắc, bài thơ tiêu biểu nhất trong giai đoạn đầu tiên được ông phổ thành ca khúc từ năm 1945 là bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư: “Tôi xem đó như bài hát phổ thơ thành công đầu tay do mình viết trong cuộc đời làm âm nhạc của mình”.

Ông lại nhắc đến một bài khác cũng của Lưu Trọng Lư đã được ông phổ nhạc đến nay vẫn còn làm rung động người yêu nhạc: đó là bài Vần thơ sầu rụng với những câu có thể ứng với nỗi buồn khi ông đã đi xa vào chiều nay: “Giờ đây trên sông hoa rụng tơi bời - còn đâu bước chân người - mơ trên đường chiều rơi”.

"Chiều" đã "rơi", nhưng tiếng vang của Tình ca, của Hẹn hò, của Viễn du, của Trường ca Mẹ Việt Nam vẫn còn đó bên lời vĩnh biệt nhạc sĩ Phạm Duy - cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam.

TP.HCM, viết nhanh chiều vĩnh biệt 27.1.2013!


“Hoàng Cầm dạy cho tôi tình yêu quê hương đất nước. Tôi còn học được ở Hoàng Cầm một tinh thần vững vàng, dù cuộc đời người thi sĩ ấy nhiều lắm những trắc trở và khổ cực”. (Phạm Duy). Trong ảnh: Nhà thơ Hoàng Cầm và nhạc sĩ Phạm Duy - Ảnh: nhân vật cung cấp

 

Giao Hưởng

Theo Thanhnien