> > > Làm ăn với Trung Quốc: Từ thua tới... thiệt

Làm ăn với Trung Quốc: Từ thua tới... thiệt

Làm ăn với Trung Quốc: Từ thua tới... thiệt

Nghịch lý trong quan hệ thương mại Việt - Trung vẫn đang diễn ra và dường như chưa có lời giải.

Trung Quốc (TQ) hiện là đối tác thương mại số 1 của Việt Nam khi giao thương giữa hai nước liên tục tăng. Ông Phạm Gia Túc, Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận xét: Giai đoạn 2000-2010 chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - TQ với tốc độ trung bình 32%/năm.

Tính đến hết tháng 9/2012, kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 29,9 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 9,256 tỷ USD. Mục tiêu kim ngạch thương mại hai chiều được kỳ vọng sẽ đạt mốc 60 tỷ USD vào năm 2015. TQ là một thị trường tiềm năng quan trọng, đồng thời là cơ hội cho Việt Nam khai thác ở phương diện xuất khẩu hàng hóa thế mạnh, đồng thời chuyển giao công nghệ, kỹ thuật...

Tuy nhiên, dường như Việt Nam đã “dễ dãi” khi để TQ ung dung thực hiện những “chiêu bài” thương mại có tính thặng dư cao. Nhìn lại toàn bộ “bức tranh” thương mại Việt - Trung, giật mình khi TQ đa phần nằm “kèo trên” trong các quan hệ giao dịch thương mại, đặc biệt là các lĩnh vực năng lượng và lương thực.

Từ nghịch lý năng lượng...

Sẽ không khỏi bất ngờ khi năm 2012, Việt Nam vẫn tiếp tục nhập khẩu điện từ TQ với số lượng lớn bất chấp những nỗ lực sản xuất của các nhà máy điện nội địa. Theo số liệu thống kê năm 2012 cho thấy, khai thác điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đạt 54,4 tỷ kWh, vượt kế hoạch 3,58 tỷ kWh.

Trong khi được đánh giá là năm “thừa” điện, thì bình quân cả năm 2012, con số nhập khẩu điện từ TQ vượt mốc 2,5-2,8 tỷ kWh. Chưa dừng ở đó, trước những dự báo khó khăn trong ngành thủy điện thời gian tới, EVN dự kiến mua khoảng 3,6 tỷ kWh điện từ TQ trong năm 2013.

Theo Báo cáo triển vọng kết nối giao thương được Ngân hàng HSBC công bố, TQ sẽ vượt Mỹ, trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam vào năm 2030.
Năm 2012, kim ngạch thương mại hai chiều Việt – Trung đạt hơn 41 tỷ USD với cán cân nghiêng hẳn về phía TQ (Việt Nam phải nhập siêu tới 16,397 tỷ USD). TQ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất tới Việt Nam (với giá trị 28,785 tỷ USD) và thị trường nhập khẩu lớn thứ ba của Việt Nam (với 12,388 tỷ USD)

Khi các nhà máy thủy điện đua nhau mọc lên, sản lượng điện tăng khá mạnh thì điện TQ vẫn có thị phần không nhỏ ngay tại sân nhà Việt Nam.

Đáng lưu ý hơn, trong khi EVN mua điện nội địa với mức giá thấp thì điện TQ vẫn vào Việt Nam với mức giá “đậm” hơn, và có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, năm 2011 giá điện nhập khẩu từ TQ là 5,8 cent/kWh, và con số này đã tăng lên mức 6,08 cent/kWh (khoảng 1.300 đồng/kWh) trong năm “thừa điện” 2012.

Trái lại, giá điện nội địa từ các nhà máy thủy điện nhỏ vẫn chỉ “nhạt” ở mức khoảng 800 - 900 đồng/kWh, có khi xuống mức 500 - 600 đồng/kWh. Giá nhiệt điện than trong nước có phần nhỉn hơn nhưng cũng chỉ khoảng 1.280 -1.300 đồng/kWh.

Chính cơ chế mua bằng hình thức bao tiêu, ký hợp đồng từ đầu năm với TQ, trong khi lượng cung điện trong nước chưa có dự báo tốt khiến lượng điện nội địa thất thường đã khiến điện Việt Nam “thừa vẫn mua”, mà đau hơn là mua điện “nước bạn” cao hơn điện dân nhà.

...Đến “sập bẫy” nông nghiệp

Bên cạnh năng lượng điện, mặt hàng nông sản trong quan hệ thương mại Việt-Trung cũng gặp những vấn đề lớn. Báo cáo tổng kết của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, năm 2012 ngành nông nghiệp đã xuất được 10,6 tỷ USD.

Tuy nhiên thực trạng “được mùa mất giá” vẫn cứ diễn ra, điển hình như: sắn và sản phẩm sắn tăng 55,2% về lượng nhưng giá lại giảm 16,8%; cà phê tăng 37,9% về lượng, giảm 6,2% về giá; hạt điều tăng 25,6% về lượng, giảm 15% về giá... Đáng chú ý nhất là xuất khẩu gạo với sản lượng tăng 13,1%, nhưng giá gạo đã giảm xuống 7,1%.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), trong năm 2012, TQ nhập khẩu 2,6 triệu tấn gạo, gấp hơn 4,5 lần so với mức nhập khẩu 575.000 tấn hồi năm 2011, vượt xa dự báo của Cơ quan Nông lương Liện Hiệp Quốc (FAO). Trong đó, TQ vượt mặt Indonesia, trở thành đối tác nhập khẩu gạo số 1 của Việt Nam với 1,43 triệu tấn (chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm 2012).

Nghịch lý diễn ra không chỉ ở chỗ TQ nhập khẩu gạo tăng đột biến trong khi nước này đứng đầu thế giới về sản xuất gạo, mà còn ở chỗ người dân TQ bán gạo cho Chính phủ TQ “cất vào kho” với giá cao, thay vào đó họ mua gạo Việt với giá rẻ hơn rất nhiều để sử dụng.

Giữa tháng 12/2012, trong khi giá gạo Việt Nam xuất khẩu chỉ ở mức 410 USD/tấn, thì cùng loại gạo đó Chính phủ TQ mua trợ giá từ người dân nước này với mức giá lên đến 635 USD/tấn.

Một lần nữa, người sản xuất lúa gạo Việt Nam phải chịu thiệt khi gạo “chảy máu” sang TQ càng nhiều thì thặng dự từ hạt gạo mà người nông dân mất đi lại chảy vào túi người TQ càng lớn.

Trước tình hình trên, các cảnh báo về việc thiếu gạo cung ứng cho các hợp đồng lớn với các đối tác xuất khẩu khác trên thế giới, cũng như những lo ngại về vấn đề an ninh lương thực quốc gia không phải là hoàn toàn không có khả năng diễn ra, nhất là khi FAO đã có dự báo về cuộc khủng hoảng lương thực thế giới năm 2013.

Việc “xuất siêu” gạo sang TQ với mức giá thấp không chỉ làm ảnh hưởng an ninh lương thực, nguy cơ vỡ hợp đồng xuất khẩu... mà chua xót hơn là bài toán “lấy cơm nhà nuôi hàng xóm” vẫn để lại dấu chấm hỏi cùng với cuộc sống khó khăn của đông đảo người trồng lúa Việt Nam.


THẮNG NGUYỄN

Theo Doanhnhansaigon